Chào mừng quý vị đến với website của Trường THPT Thạch An
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
chu quyen bien dao

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Hoàng Tuấn Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:27' 08-04-2012
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 181
Nguồn: Internet
Người gửi: Hoàng Tuấn Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:27' 08-04-2012
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 181
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA ĐỊA LÍ
BÀI BÁO CÁO
CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
GVHD: PHÙNG THÁI DƯƠNG
LỚP: ĐỊA 08A
SVTH: NHÓM 4
I. QUẦN ĐẢO
1.1 Khái quát 2 quần đảo
1.1.1 Quần đảo Hoàng Sa
1.1.2 Quần đảo Trường Sa
1.2 Vấn đề tranh chấp Hoàng Sa
1.3 Lập trường các nước về Trường Sa
I.3.1 Trung Quốc
I.3.2 Philippines
I.3.3 Malayxia
I.3.4 Đài Loan
I.3.5 Brunây
I.3.6 Inđônêxia
II. BIỂN ĐÔNG
2.1 Khái quát
2.2 Vấn đề tranh chấp biển Đông
III. LUẬN CỨ CHỨNG MINH
3.2 Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
3.1 Khám phá từ thế kỷ XV và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII
3.3 Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
IV. CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
I. QUẦN ĐẢO
I.1 Khái quát 2 quần đảo
I.1.1 Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh:Paracel Islands)là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông.
Quần đảo nằm cách miền trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.
Tọa độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông
Chu vi bờ biển: khoảng 518 km
Khí hậu: nhiệt đới
Độ cao: chỗ thấp nhất 0 m (biển Đông), chỗ cao nhất 14 m (địa điểm chưa có tên ở đảo Rocky)
Tài nguyên: thiếu
Nguy hiểm tự nhiên: bão
Tên các đảo (huyện đảo Hoàng Sa): chia thành hai nhóm An Vĩnh và Trăng Khuyết.
I.1.2 Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands) là nhóm gồm hơn 100 đảo nhỏ và đảo đá ngầm đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Đông.
Tọa độ: 8°38′ Bắc 111°55′ Đông
Diện tích (đất liền): nhỏ hơn 5 km²
Đường bờ biển: 926 km
Khí hậu: nhiệt đới
Địa thế: phẳng
Độ cao:
điểm thấp nhất: Biển Đông (0 m)
điểm cao nhất: vị trí không đặt tên ở đảo Song Tử Tây (4 m)
Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam
Thảm hoạ thiên nhiên: bão; nguy hiểm cho giao thông đường biển bởi vì nhiều đảo đá ngầm và bãi nông.
Huyện đảo Trường Sa nằm trên biển Đông, ở phía Đông và Đông Nam bờ biển Việt Nam.
Ở tọa độ địa lý phạm vi 6°50`00" đến 12°00`00" Bắc và từ 111°30`00" đến 117°20`00" kinh độ Đông.
Cách Cam Ranh 248 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý (tính từ đảo Trường Sa Lớn).
Một số hình ảnh về Trường Sa
Cây bàng vuông trên đảo Trường Sa Lớn
Cây phong ba trên đảo Trường Sa Lớn
Trẻ em nô đùa trên đảo Trường Sa Lớn
Bãi biển đảo An Bang
Hải đăng Đá Tây và đảo chìm Đá Tây
Nghĩa trang liệt sĩ trên đảo Trường Sa Đông
Cột mốc chủ quyền trên đảo Phan Vinh
Cầu tầu đảo Phan Vinh
I.2 Vấn đề tranh chấp Hoàng Sa
Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ nhưng không có dân bản địa sinh sống.
Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền cho đến năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956). Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng hải và không quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa, 1974. Đài Loan và Việt Nam cũng đang tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngoài ra cũng có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu độc lập khác cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.
Gần đây nhất đã phát hiện chứng cứ rất rõ ràng khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam: là sắc chỉ của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến việc canh giữ quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, gìn giữ suốt 174 năm qua, nay trao lại cho Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh. Đây là sắc chỉ của vua Minh Mạng (triều Nguyễn), phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (tức năm Giáp Ngọ 1834).
I.3 Lập trường các nước về Trường Sa
Hiện nay quần đảo Trường Sa là vùng tranh chấp của 6 nước 7 bên gồm: Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Inđônêxia và Philippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần với các lập trường
Hiện Việt Nam kiểm soát trên 20 đảo, bãi đá ngầm, một số bị chiếm đóng bất hợp pháp bởi Trung Quốc (8), Philippines (8), Malaysia (4), Đài Loan (1).
I.3.1 Trung Quốc
Tháng 3/1988 và tháng 01/1995, đánh chiếm 7 bãi đá, bãi cạn ở quần đảo Trường Sa (Nam Sa).
Tháng 12/2007, Tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện, thành phố Nam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.
Luận cứ về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa
a) Quyền khám phá
Trung Quốc đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán, năm 206 trước Công nguyên.
b) Sách sử trước thế kỷ XIII
Quyển Dị vật chí thời Hán (Yi Wu Zhi), viết như sau:
“Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm.
Quyển Zuo Zhuan viết từ thời Xuân Thu, ghi như sau:
“Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu của Trung Hoa…”
Quyển Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII) có ghi rằng: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường, và ngoài nữa là đại dương vô tận…”
Quyển Hải Lục (On the Sea), tác giả Hoàng Chung, xuất bản đời Minh, ghi rằng: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”.
c) Hiệp ước 1887
Trung Hoa ngày xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887 để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.
d)Quốc tế công nhận chủ quyền của của Trung Quốc trong quần đảo Nam Sa
Nhân Dân của Việt Nam đã báo cáo rất chi tiết về 06 tháng 9 năm 1958 Tuyên bố Chính phủ Trung Quốc trong 4 tháng 9 năm 1958 rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa.
Ngày 14 tháng chín năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính phủ Việt Nam đã long trọng đã ghi rõ trong cho Thủ tướng Chu Ân Lai rằng Việt Nam "ghi nhận và hỗ trợ các Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung Quốc."
Anh:
31 tháng 12 năm 1973 nhà báo Ủy viên Anh đến Singapore là có nói năm 1970: “quần đảo Trường Sa (Nam sa đảo Trung Quốc) là một sự phụ thuộc của Trung Quốc, một phần của Tỉnh Quảng Đông
Pháp:
bản đồ được xuất bản Larousse quốc tế vào năm 1965 ở Pháp đánh dấu sự Tây Sa, Nam Sa và quần đảo Ðông Sa theo tên Trung Quốc của họ và cung cấp cho chỉ dẫn rõ ràng về quyền sở hữu của họ là Trung Quốc
Nhật Bản:
Niên giám của thế giới xuất bản tại Nhật Bản vào năm 1972 nói rằng lãnh thổ Trung Quốc không chỉ bao gồm đất liền, nhưng cũng có đảo Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ đảo cũng như các Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa trên Biển Đông.
Hoa Kỳ:
-Từ điển xuất bản ở Hoa Kỳ vào năm 1961 nói rằng các quần đảo Nam Sa trên Biển Đông là một phần của tỉnh Quảng Đông và thuộc về Trung Quốc.
-Các Worldmark xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 1963 nói rằng các quần đảo của Cộng hòa nhân dân mở rộng về phía nam để bao gồm các đảo và rặng san hô trên biển Nam Trung Hoa ở phía bắc 4 ° vĩ độ.
-Thế giới hành chính Phòng Wikipedia tiếng Việt xuất bản năm 1971 nói rằng Cộng hòa Nhân dân đã có một số quần đảo, bao gồm cả đảo Hải Nam gần biển Đông, mà là lớn nhất, và một vài người khác trên biển Nam Trung Quốc kéo dài đến tận phía bắc vĩ độ 4 °, chẳng hạn như, Ðông Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa.
Các hội nghị quốc tế:
1. San Francisco năm 1951 Hội nghị về Hiệp ước hoà bình đã kêu gọi Nhật Bản bỏ Tây Sa và Nam Sa. Andrei Gromyko, Trưởng Phái đoàn của Liên Xô để Hội nghị này, đã chỉ ra trong tuyên bố của ông rằng Tây Sa và Nam Sa là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Đó là sự thật rằng Hiệp định Hòa bình San Francisco không rõ ràng yêu cầu Nhật Bản để khôi phục lại Tây Sa và Nam Sa cho Trung Quốc.
2. Các Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế tổ chức hội nghị đầu tiên về khu vực châu Á-Thái Bình Dương khu vực hàng không ở Manila của Philippines ngày 27 tháng 10 năm 1955 đã được nhất trí tại hội nghị rằng Ðông Sa, Tây Sa và Nam Sa trên Biển Đông, hội nghị đã thông qua Nghị quyết số 24, yêu cầu chính quyền Đài Loan của Trung Quốc để cải thiện quan trắc khí tượng trên quần đảo Nam Sa, bốn lần một ngày. Khi Nghị quyết này đã được đặt để bỏ phiếu, tất cả các đại diện, bao gồm cả những người của Philippines và miền Nam Việt Nam, đã cho nó. Không có đại diện tại hội nghị thực hiện bất kỳ phản đối hoặc bảo lưu về nó
I.3.2 Philippines
Trong khi Philippines lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1946, thì sự dính líu nghiêm túc của họ chỉ diễn ra vào năm 1956 khi vào ngày 15 tháng 5 công dân Philippines là Tomas Cloma tuyên bố lập ra một nhà nước mới, Kalayaan (Vùng đất tự do). Kalayaan của Cloma trải rộng trên toàn bộ phía đông Biển Đông, gồm cả toàn bộ quần đảo Trường Sa, đảo Ba Bình, Pagasa và đảo Nam Yết, cũng như đảo West York, đảo chìm North Danger, đảo chìm Mariveles và bãi cát ngầm Invertigator.
Sau đó Cloma lập ra một thuộc địa vào tháng 7 năm 1956 với thủ đô là Pagasa và Cloma là "Chủ tịch hội đồng tối cao của nhà nước Kalayaan". Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận, vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines và sự phản ứng quốc tế nhanh chóng xảy ra.
Tomas Cloma và Philippines tiếp tục tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo:
Tháng 10 năm 1956 Cloma tới Thành phố New York để trình bày sự việc trước Liên hiệp quốc và Philippines đã cho đóng quân trên ba đảo từ năm 1968 để bảo vệ các công dân Kalayaan.
Đầu năm 1971 Philippines gửi một lưu ý ngoại giao nhân danh Cloma tới Đài Bắc yêu cầu Cộng hoà Trung Hoa rút quân khỏi đảo Ba Bình
Ngày 10 tháng 7 cùng năm Ferdinand Marcos thông báo sự sáp nhập nhóm 53 hòn đảo mà họ gọi là Kalayaan, mặc dù cả Cloma và Marcoss không chỉ rõ 53 đảo nào tạo thành Kalayaan, người Philippines bắt đầu tuyên bố chủ quyền ở càng nhiều nơi càng tốt.
Tháng 4 năm 1972 Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một poblacion (khu vực nhỏ), với Tomas Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực
Năm 1992 có 12 cử tri được đăng ký ở Kalayaan. Philippines cũng liên tục cố gắng đổ quân xuống đảo Ba Bình
Năm 1977 để chiếm đảo nhưng bị quân đội Cộng hoà Trung Quốc đóng trên đảo đẩy lùi.
Năm 2005, một trạm điện thoại di động được lắp đặt ở đảo Pagasa bởi Smart Communications của Philippine
Người Philippines đưa ra res nullius(một thuật ngữ tiếng Latinh có nguồn gốc từ luật La Mã, được gọi là vật vô chủ).Và địa lý làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Cái cho rằng Kalayaan của Philippines là res nullius bởi vì không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930, khi người Pháp và sau đó là người Nhật chiếm đảo.
Khi Nhật Bản tuyên bố rút lui chủ quyền đối với các đảo trong Hiệp ước Hoà bình San Francisco, đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, người Philippines cho rằng quần đảo trở thành res nullius và có thể được sáp nhập. Nhà kinh doanh người Philippines Tomas Cloma đã làm đúng điều đó vào năm 1956 và trong khi Philippines không bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Cloma, trong lúc chuyển giao chủ quyền đảo từ Cloma sang Philippines, người Philippines sử dụng đúng quyền tuyên bố chủ quyền như Cloma đã từng làm.
Philippines yêu cầu Kalayaan về các căn cứ địa lý có thể tóm tắt bằng cách khẳng định rằng Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở Biển Đông bởi vì:
"Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học coi một dãy các đảo có tên thuộc về đảo lớn nhất trong nhóm hay có tên dựa theo sự tập hợp chung. Ghi chú rằng Trường Sa (đảo) chỉ có diện tích 13 hectare so với diện tích 22 hectare của đảo Pagasa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách quần đảo Pagasa 210 m. Điều này nhấn mạnh lý lẽ rằng chúng không phải là phần của cùng một dãy đảo. Quần đảo Hoàng Sa còn ở xa hơn (34.5 km tây bắc đảo Pagasa) rõ ràng là một nhóm đảo khác."
Một lý lẽ thứ hai được Philippines sử dụng liên quan tới tuyên bố chủ quyền địa lý của họ đối với Trường Sa là những đảo thuộc phần tuyên bố chủ quyền của Philippines nằm bên trong đường căn bản quần đảo của họ, họ là nước duy nhất có thể tuyên bố như vậy.
Hội nghị Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982 nói rằng các nước bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm biển tài phán từ biên giới đất liền của mình. Có thể điều đó có nghĩa rằng trong khi Philippines là một nước đã ký kết vào UNCLOS, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam vẫn chưa tham gia. Philippines cũng viện lý lẽ rằng, theo các điều khoản của Luật biển, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không thể mở rộng đường căn bản của mình tới Trường Sa bởi vì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không phải là nước có biển đảo.
Hiện Philipin chiếm 8 đảo (Bến Dừa, Thị Tứ, Loai Ta, Vĩnh Viễn, Bình Nguyên, Song Tử Đông, Paratan và Cong Do) với diện tích đất 83,89 ha.
Philippin đã triển khai nâng cấp sân bay trên đảo Thị Tứ (đảo lớn thứ 2 của quần đảo Trường Sa); thành lập cơ quan hành chính; trạm phủ sóng điện thoại di động, nhà máy lọc nước, nhà máy điện…đảm bảo cho 300 người dân sinh sống.
I.3.3 Malayxia
Năm 1979, Malayxia xuất bản bản đồ công bố thềm lục địa của Malayxia bao trùm lên phần phía nam của quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo ở Trường Sa thuộc vương quốc cổ của Malayxia. Malayxia chiếm 5 đảo và bãi đá ngầm với diện tích đất 6,2 ha (Hoa Lau, Kỷ Vân, Kiệu Ngựa, Thám Hiểm và Én Ca).
Malayxia tiến hành đầu tư phát triển ngành dầu khí và du lịch, xây dựng đảo Én Ca thành địa điểm du lịch hấp dẫn với: Sân bay, bể bơi, nhà nghỉ cao cấp.
I.3.4 Đài Loan
Chiếm đảo Ba Bình – đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa - với diện tích 46 ha và bãi cạn Bình Than. Đài Loan tiếp tục duy trì sự có mặt của lực lượng hải quân ở Trường Sa. Gần đây triển khai xây dựng sân bay dân sự phục vụ cho mục đích quân sự bất chấp sự phản ứng của các nước trong khu vực.
I.3.5 Brunây
Năm 1984, Brunây lập ra một vùng đặc quyền đánh cá bao gồm cả đảo ngầm Louisa ở phía nam quần đảo Trường Sa
Năm 1988 và 1993, Brunây công bố bản đồ yêu sách thềm lục địa ở Biển Đông trùm lên một phần nhỏ phía nam quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Brunây không chiếm đóng đảo nào
I.3.6 Inđônêxia
Không chiếm đảo nào nhưng thường xuyên duy trì hoạt động quân sự, tuần tiểu, kiểm tra bắt các tàu đánh cá trong khu vực quần đảo (ngày 19/7/2007, Inđônêxia vây bắt và bắn vào 2 tàu đánh cá Việt Nam làm chết 2 người, 1 người bị thương).
II. BIỂN ĐÔNG
II.1 Khái quát
Trải rộng từ :
Vĩ độ : 30 lên đến 260 VB.
Kinh độ : 1000 đến 1210 KĐ.
Là biển lớn thứ 6 trên thế giới. Diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3.500.000 km², được bao bọc bởi 9 quốc gia khác là : Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Brunây, Inđônêsia, Malaysia,Thái Lan, Singapo, Campuchia.
Cao Văn Trọng, Bí Thư HU Ba Tri - 0913965309
Biển Đông (South China)
Việt Nam
Trung Quốc
Malaysia
Singapore
Campuchia
Thailand
Brunei
Philippine
Indonesia
Giáp với 28/64 tỉnh, thành phố của Việt Nam, có 3000 hòn đảo gần bờ và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Có nhiều đảo lớn rộng trên 100 km2 như : Cát Bà, Phú Quốc, Cái Bầu.
Biển Đông là một biển nửa kín.
Là đường hàng hải nhộn nhịp thứ 2 thế giới ( sau Địa Trung Hải ).
Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng.
Biển Đông là một khu vực hết sức chiến lược và quan trọng đối với các nước.
Năm vùng biển theo Công ước của LHQ về Luật biển 1982 mà Việt Nam tham gia từ ngày 23/6/1994
1hải lý =40.000/(360x60) = 1,852 km
Biển Đông
Hoàng Sa gồm 30 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn. Nằm ở khu vực biển. Vị trí: Từ 15045’ đến 17005’ vĩ độ Bắc. Từ 1110 đến 1130 kinh độ Đông. Diện tích phần nổi là: 10 km2. Đảo lớn nhất là : Phú Lâm, rộng: 1,5 km2
Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cách Hoàng Sa 120 hải lý
Đảo Hải Nam (Trung Quốc) cách Hoàng Sa 130 hải lý, cách Trường Sa 595 hải lý.
Trường Sa gồm hơn 100 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn. Nằm ở khu vực biển. Vị trí: Từ 6050’ đến 1200’ vĩ độ Bắc. Từ 111030’ đến 117020’ kinh độ Đông. Diện tích phần nổi là: 10 km2. Đảo lớn nhất là : Ba Bình, rộng: 0,5 km2
Trường Sa cách Cam Ranh (Khánh Hoà) 248 hải lý; cách Đảo Phú Quí (Bình Thuận) 203 hải lý
II.2 Vấn đề tranh chấp trên biển Đông
Bản đồ tranh chấp chủ quyền giữ các nước
Năm 1947, Chính quyền Trung hoa dân quốc xuất bản bản đồ “Nam hải chư đảo” và sau đó (1950), Trung cộng tái bản trên bản đồ “Trung hoa nhân dân cộng hoà phân tỉnh tinh đồ” thể hiện đường yêu sách 9 đoạn đứt khúc (gọi nôn na là đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông.
Trung Quốc xác định trong bản đồ “Trung Hoa Nhân dân Cộng hoà quốc phân tỉnh tinh đồ” thể hiện 9 đoạn đứt khúc
Bản đồ hình lưỡi bò của Trung Quốc
III.LUẬN CỨ CHỨNG MINH
Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình cho đến khi quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị các lực lượng vũ trang Trung Quốc đánh chiếm.
Dấu ấn sớm nhất ghi lại được của con người với quần đảo Trường Sa là từ khoảng năm thứ 3 trước Công nguyên.
Điều này dựa trên một số phát hiện rằng những người đánh cá, đa số là cư dân từ Vương quốc Chăm Pa cổ của Việt Nam hoặc cư dân cổ xuất phát từ đảo Hải Nam và các vùng đất nay là các quận ở tỉnh Quảng Đông đã đến quần đảo Trường Sa, và các đảo khác ở vùng Biển Đông để đánh cá hàng năm.
Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thỉnh thoảng có một số thuỷ thủ từ một số nước lớn châu Âu (gồm hoặc Richard Spratly hoặc William Spratly) đến quần đảo Trường Sa, từ đó quần đảo có cái tên tiếng Anh là Spratly và tên này được thừa nhận chung, nhưng các nước châu Âu hồi đó còn ít chú ý đến quần đảo này.
Đa số các tên tiếng Anh của các đảo, đảo nhỏ và đảo chìm được những ngư dân Việt Nam hay Trung Quốc đặt. Các tàu Đức đến nghiên cứu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1883 nhưng cuối cùng đã rút lui sau khi có những phản ứng từ phía nhà Nguyễn của Việt Nam.
III.1 Khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII
Dân đánh cá Việt Nam đã sống trên những đảo này và khai thác đảo từ lâu đời. Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được là quyển “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII. Danh từ “Tuyển tập” cho ta thấy tài liệu này được thu nhập từ nhiều tài liệu trước nữa.
Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư
Theo Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư do Đỗ Bá Công Đạo soạn vào thế kỷ XVII, vào thế kỷ XVII bản đồ Việt Nam đã đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng cái tên chung là Bãi Cát Vàng và quy thuộc hai quần đảo này vào đại hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa. Lúc đó, Bãi Cát Vàng còn được gọi bằng nhiều tên khác như : Hoàng Sa, Cồn Vàng, Trường Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa v.v… và nay là Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong quyển này, Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và xác nhận rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ XVII. Đoạn trích do sử gia kiêm nhà Hán học Võ Long Tê dịch như sau:
“Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng”, dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh.
Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển thường bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị đắm trôi dạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo.
Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày.”
Theo sử gia Võ Long Tê, mặc dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (vào năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển Hồng Đức Bản Đồ - Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Danh từ Bãi Cát Vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác, từ lâu trước khi chính quyền Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo
Dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này.
III.2 Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
Phủ biên tạp lục
Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam. Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều tài liệu của chính quyền các Chúa Nguyễn để lại.Đoạn sau đây nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
“… Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”
Việt Nam đã củng cố sự chiếm hữu và xác lập chủ quyền bằng việc tổ chức các đội Hoàng Sa để tiến hành khai thác với tư cách Nhà nước. Mỗi đội Hoàng Sa gồm 70 người, nhiệm vụ là mỗi năm ra Hoàng Sa sáu tháng đánh bắt hải sản như hải sâm, đồi mồi, ốc quý,… thu lượm các hàng hoá của các tàu bị đắm ở vùng các quần đảo này như vàng bạc, tiền tệ, súng đạn, thiếc, đồ sứ, đồ thuỷ tinh,…
Cuốn sách của Đỗ Bá Công Đạo cũng như hàng chục sách khác như Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên (1844-1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1882), những bộ sử chính thức của Quốc Sử quán của Triều đình Huế, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833)… đều đã nói đến Hoàng Sa và việc khai thác bằng các đội Hoàng Sa. Tất cả có thể lệ tuyển chọn người, chế độ thu nộp, chế độ khen thưởng, chế độ đãi ngộ đối với các đội Hoàng Sa đều được Nhà nước quy định rõ ràng.
Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).
Vua Gia Long, người sáng lập đời nhà Nguyễn và các vua kế tiếp như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã đặc biệt quan tâm củng cố chủ quyền của nước mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
III.3 Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
Chủ quyền được tiếp tục hành xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn (là thời đại kế vị chính quyền các Chúa Nguyễn).
Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, Vua Gia Long, đã củng cố thêm quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách chính thức chiếm hữu hai quần đảo. Năm 1816, Vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam.
Sau đây là một số sự kiện nổi bật nhất :
- Năm 1815 vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa khảo sát và đo đạc đường biển. Việc khảo sát và đo đạc được tiếp tục vào các năm sau đó.
Đoạn sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên chứng minh điều này:
“Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Vua Gia Long (1816)
Ra lệnh cho lực lượng hải quân và đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình.”
Sự chiếm hữu hai quần đảo theo lệnh của Vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây.
Bài của M.A. Dubois de Jancigny viết như sau:
“… Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một giải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ”
Một bài khác của Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi nhận điều trên:
“Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay là hoàng đế bao gồm bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần của Vương quốc Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi không có người ở. Chỉ đến năm 1816 hoàng đế hiện nay mới chiếm lĩnh những đảo ấy.”
- Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 104, viết như sau:
“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)… Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”
Đại Nam thực lục chính biên
- Năm sau, Vua Minh Mệnh ra lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Quyển Đại Nam thực lục chính biên (1834), quyển thứ 122 ghi nhận điều này:
“Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh:
… Vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ…”
- Đến năm 1835 thì lệnh xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong quyển Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154:
“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)… Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: “Vạn Lý Ba Bình”. Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch.
Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về”.
- Sau khi chỉ thị chuẩn bị thuyền và vật tư năm 1833, vua Minh Mạng, liên tiếp trong 3 năm 1834, 1835, 1836 cử các tướng Trưng Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa đo đạc từng đảo, khảo sát tình hình biển chung quanh, vẽ bản đồ và xây miếu, dựng bia chủ quyền. Vua Thiệu Trị đã trực tiếp phê duyệt kế hoạch hoạt động năm của đội Hoàng Sa do Bộ Công đệ trình. Vua tự Đức đã phong cho những chiến sĩ đội Hoàng Sa hy sinh danh hiệu "Hùng binh Trường Sa".
Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình".
Tờ tâu của Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị năm 1847
Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) Bộ Công dâng sớ tâu lên vua: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực biển nước ta, hết sức hiểm yếu. Sách Đại Nam nhất thống chí viết : "Phía Đông có bãi cát nằm ngang (đảo Hoàng Sa) liền với biển xanh làm hào bao che". Trong sách "Hải Lục" của Trung Quốc viết năm 1842 cũng nhận xét: "Vạn lý Trường Sa gồm những bãi cát nổi trên biển dài mấy ngàn dặm, làm phên dậu bên ngoài của nước An Nam".
Đại Nam nhất thống chí
Đây là bản đồ nước Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838 (trong Đại Nam Nhất thống toàn đồ).
Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Bản đồ vẽ quần đảo Trường Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong thực tế chỉ vì kỹ thuật thời đó còn kém, không biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa và của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này. Hơn nữa, vị trí của hai quần đảo nằm trên cùng một kinh tuyến 111°;quần đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông nam, nên trên thực tế cũng không xa nhau lắm, và vì thời đó người ta không có được ý niệm chính xác về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản đồ, thì có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau hơn thực tế. Dù sao,các giả thuyết cũng đều chứng minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.
Những bản đồ của phương Tây thời xưa cũng không phân biệt được quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nên đã vẽ cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ, bản đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les établissement et point de penetration européen en Extrême Orient au 18è siècle
Trong bản đồ Biển Đông (Sinensis Oceanus) của anh em Van Langren người Hà Lan in năm 1595 cũng như trong bản đồ "Indiae Orientalis" của nhà hàng hải Meccato in năm 1633, đã vẽ hải quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành một dải liền nhau, hình lá cờ đuôi nheo nằm trải dài ngoài khơi dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, trong đó có rất nhiều chấm nhỏ biểu thị các hòn đảo, bãi cát với hàng chữ Isle de Pracel (quần đảo Pracel). Trong bản đồ này trên bờ biển ở khu vực Đà Nẵng hiện nay có ghi dòng chữ Costa de Pracel (bờ biển Pracel).
Trong một công trình của mình, nhà nghiên cứu M.G. Dumoutier đã đề cập đến một tập bản đồ Việt Nam vẽ vào cuối thế kỷ 15 gồm 24 mảnh, trong đó có mảnh thứ 19 đã thể hiện rõ ràng ở ngoài khơi tỉnh Quảng Nghĩa có một bãi cát trải dài 500 - 600 hải lý mang tên Bãi Cát Vàng.
Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam
Hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam. Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn, trải qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ chức. Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời phản đối của Trung Hoa thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.
Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.
Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam theo Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 trong đó công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam, Pháp đã nhân danh Việt Nam cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; chủ yếu tiến hành các cuộc tuần tiễu trong vùng, dùng tàu của lực lượng hải quan ngăn chặn việc buôn lậu. Bên cạnh những việc đó, chính quyền Pháp đã cho tiến hành hàng loạt các hoạt động nghiên cứu, điều tra, khảo sát về hải dương, địa chất và sinh vật ở khu vực hai quần đảo
Nhằm củng cố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo, trong những năm đầu của thập kỷ 30 của thế kỷ XX, các đơn vị hải quân của chính quyền Pháp đã lần lượt đến đóng quân trên các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa. Hành động này đã được công bố và ghi nhận trong công báo nước Cộng hoà Pháp ngày 26 tháng 7 năm 1933.
Cùng trong năm 1933, quần đảo Trường Sa đã được quy thuộc vào tỉnh Bà Rịa theo một Nghị định của Thống đốc Nam kỳ J.Krautheimer.
Ngày 15 tháng 6 năm1938, Toàn quyền Đông Dương Brévie đã ban bố Sắc lệnh xác lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa,
Cũng trong năm 1938, Pháp đã cho dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở quần đảo Hoàng Sa; xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở quần đảo Trường Sa.
Bia chủ quyền do Pháp dựng năm 1938
Năm 1939, Pháp đã phản đối việc Nhật Bản tuyên bố một số đảo trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Nhật Bản.
Năm 1947, Pháp đã yêu cầu quân đội Trung Hoa dân quốc rút quân khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân ra thay thế quân đội Trung Quốc, đồng thời cho xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.
Năm 1950, Pháp chính thức giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính quyền Việt Nam.
Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng của chính quyền Bảo Đại lúc đó là Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố
KHOA ĐỊA LÍ
BÀI BÁO CÁO
CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
GVHD: PHÙNG THÁI DƯƠNG
LỚP: ĐỊA 08A
SVTH: NHÓM 4
I. QUẦN ĐẢO
1.1 Khái quát 2 quần đảo
1.1.1 Quần đảo Hoàng Sa
1.1.2 Quần đảo Trường Sa
1.2 Vấn đề tranh chấp Hoàng Sa
1.3 Lập trường các nước về Trường Sa
I.3.1 Trung Quốc
I.3.2 Philippines
I.3.3 Malayxia
I.3.4 Đài Loan
I.3.5 Brunây
I.3.6 Inđônêxia
II. BIỂN ĐÔNG
2.1 Khái quát
2.2 Vấn đề tranh chấp biển Đông
III. LUẬN CỨ CHỨNG MINH
3.2 Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
3.1 Khám phá từ thế kỷ XV và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII
3.3 Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
IV. CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
I. QUẦN ĐẢO
I.1 Khái quát 2 quần đảo
I.1.1 Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh:Paracel Islands)là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông.
Quần đảo nằm cách miền trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.
Tọa độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông
Chu vi bờ biển: khoảng 518 km
Khí hậu: nhiệt đới
Độ cao: chỗ thấp nhất 0 m (biển Đông), chỗ cao nhất 14 m (địa điểm chưa có tên ở đảo Rocky)
Tài nguyên: thiếu
Nguy hiểm tự nhiên: bão
Tên các đảo (huyện đảo Hoàng Sa): chia thành hai nhóm An Vĩnh và Trăng Khuyết.
I.1.2 Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands) là nhóm gồm hơn 100 đảo nhỏ và đảo đá ngầm đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Đông.
Tọa độ: 8°38′ Bắc 111°55′ Đông
Diện tích (đất liền): nhỏ hơn 5 km²
Đường bờ biển: 926 km
Khí hậu: nhiệt đới
Địa thế: phẳng
Độ cao:
điểm thấp nhất: Biển Đông (0 m)
điểm cao nhất: vị trí không đặt tên ở đảo Song Tử Tây (4 m)
Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam
Thảm hoạ thiên nhiên: bão; nguy hiểm cho giao thông đường biển bởi vì nhiều đảo đá ngầm và bãi nông.
Huyện đảo Trường Sa nằm trên biển Đông, ở phía Đông và Đông Nam bờ biển Việt Nam.
Ở tọa độ địa lý phạm vi 6°50`00" đến 12°00`00" Bắc và từ 111°30`00" đến 117°20`00" kinh độ Đông.
Cách Cam Ranh 248 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý (tính từ đảo Trường Sa Lớn).
Một số hình ảnh về Trường Sa
Cây bàng vuông trên đảo Trường Sa Lớn
Cây phong ba trên đảo Trường Sa Lớn
Trẻ em nô đùa trên đảo Trường Sa Lớn
Bãi biển đảo An Bang
Hải đăng Đá Tây và đảo chìm Đá Tây
Nghĩa trang liệt sĩ trên đảo Trường Sa Đông
Cột mốc chủ quyền trên đảo Phan Vinh
Cầu tầu đảo Phan Vinh
I.2 Vấn đề tranh chấp Hoàng Sa
Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ nhưng không có dân bản địa sinh sống.
Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền cho đến năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956). Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng hải và không quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa, 1974. Đài Loan và Việt Nam cũng đang tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngoài ra cũng có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu độc lập khác cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.
Gần đây nhất đã phát hiện chứng cứ rất rõ ràng khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam: là sắc chỉ của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến việc canh giữ quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, gìn giữ suốt 174 năm qua, nay trao lại cho Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh. Đây là sắc chỉ của vua Minh Mạng (triều Nguyễn), phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (tức năm Giáp Ngọ 1834).
I.3 Lập trường các nước về Trường Sa
Hiện nay quần đảo Trường Sa là vùng tranh chấp của 6 nước 7 bên gồm: Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Inđônêxia và Philippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần với các lập trường
Hiện Việt Nam kiểm soát trên 20 đảo, bãi đá ngầm, một số bị chiếm đóng bất hợp pháp bởi Trung Quốc (8), Philippines (8), Malaysia (4), Đài Loan (1).
I.3.1 Trung Quốc
Tháng 3/1988 và tháng 01/1995, đánh chiếm 7 bãi đá, bãi cạn ở quần đảo Trường Sa (Nam Sa).
Tháng 12/2007, Tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện, thành phố Nam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.
Luận cứ về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa
a) Quyền khám phá
Trung Quốc đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán, năm 206 trước Công nguyên.
b) Sách sử trước thế kỷ XIII
Quyển Dị vật chí thời Hán (Yi Wu Zhi), viết như sau:
“Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm.
Quyển Zuo Zhuan viết từ thời Xuân Thu, ghi như sau:
“Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu của Trung Hoa…”
Quyển Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII) có ghi rằng: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường, và ngoài nữa là đại dương vô tận…”
Quyển Hải Lục (On the Sea), tác giả Hoàng Chung, xuất bản đời Minh, ghi rằng: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”.
c) Hiệp ước 1887
Trung Hoa ngày xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887 để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.
d)Quốc tế công nhận chủ quyền của của Trung Quốc trong quần đảo Nam Sa
Nhân Dân của Việt Nam đã báo cáo rất chi tiết về 06 tháng 9 năm 1958 Tuyên bố Chính phủ Trung Quốc trong 4 tháng 9 năm 1958 rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa.
Ngày 14 tháng chín năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính phủ Việt Nam đã long trọng đã ghi rõ trong cho Thủ tướng Chu Ân Lai rằng Việt Nam "ghi nhận và hỗ trợ các Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung Quốc."
Anh:
31 tháng 12 năm 1973 nhà báo Ủy viên Anh đến Singapore là có nói năm 1970: “quần đảo Trường Sa (Nam sa đảo Trung Quốc) là một sự phụ thuộc của Trung Quốc, một phần của Tỉnh Quảng Đông
Pháp:
bản đồ được xuất bản Larousse quốc tế vào năm 1965 ở Pháp đánh dấu sự Tây Sa, Nam Sa và quần đảo Ðông Sa theo tên Trung Quốc của họ và cung cấp cho chỉ dẫn rõ ràng về quyền sở hữu của họ là Trung Quốc
Nhật Bản:
Niên giám của thế giới xuất bản tại Nhật Bản vào năm 1972 nói rằng lãnh thổ Trung Quốc không chỉ bao gồm đất liền, nhưng cũng có đảo Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ đảo cũng như các Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa trên Biển Đông.
Hoa Kỳ:
-Từ điển xuất bản ở Hoa Kỳ vào năm 1961 nói rằng các quần đảo Nam Sa trên Biển Đông là một phần của tỉnh Quảng Đông và thuộc về Trung Quốc.
-Các Worldmark xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 1963 nói rằng các quần đảo của Cộng hòa nhân dân mở rộng về phía nam để bao gồm các đảo và rặng san hô trên biển Nam Trung Hoa ở phía bắc 4 ° vĩ độ.
-Thế giới hành chính Phòng Wikipedia tiếng Việt xuất bản năm 1971 nói rằng Cộng hòa Nhân dân đã có một số quần đảo, bao gồm cả đảo Hải Nam gần biển Đông, mà là lớn nhất, và một vài người khác trên biển Nam Trung Quốc kéo dài đến tận phía bắc vĩ độ 4 °, chẳng hạn như, Ðông Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa.
Các hội nghị quốc tế:
1. San Francisco năm 1951 Hội nghị về Hiệp ước hoà bình đã kêu gọi Nhật Bản bỏ Tây Sa và Nam Sa. Andrei Gromyko, Trưởng Phái đoàn của Liên Xô để Hội nghị này, đã chỉ ra trong tuyên bố của ông rằng Tây Sa và Nam Sa là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Đó là sự thật rằng Hiệp định Hòa bình San Francisco không rõ ràng yêu cầu Nhật Bản để khôi phục lại Tây Sa và Nam Sa cho Trung Quốc.
2. Các Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế tổ chức hội nghị đầu tiên về khu vực châu Á-Thái Bình Dương khu vực hàng không ở Manila của Philippines ngày 27 tháng 10 năm 1955 đã được nhất trí tại hội nghị rằng Ðông Sa, Tây Sa và Nam Sa trên Biển Đông, hội nghị đã thông qua Nghị quyết số 24, yêu cầu chính quyền Đài Loan của Trung Quốc để cải thiện quan trắc khí tượng trên quần đảo Nam Sa, bốn lần một ngày. Khi Nghị quyết này đã được đặt để bỏ phiếu, tất cả các đại diện, bao gồm cả những người của Philippines và miền Nam Việt Nam, đã cho nó. Không có đại diện tại hội nghị thực hiện bất kỳ phản đối hoặc bảo lưu về nó
I.3.2 Philippines
Trong khi Philippines lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1946, thì sự dính líu nghiêm túc của họ chỉ diễn ra vào năm 1956 khi vào ngày 15 tháng 5 công dân Philippines là Tomas Cloma tuyên bố lập ra một nhà nước mới, Kalayaan (Vùng đất tự do). Kalayaan của Cloma trải rộng trên toàn bộ phía đông Biển Đông, gồm cả toàn bộ quần đảo Trường Sa, đảo Ba Bình, Pagasa và đảo Nam Yết, cũng như đảo West York, đảo chìm North Danger, đảo chìm Mariveles và bãi cát ngầm Invertigator.
Sau đó Cloma lập ra một thuộc địa vào tháng 7 năm 1956 với thủ đô là Pagasa và Cloma là "Chủ tịch hội đồng tối cao của nhà nước Kalayaan". Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận, vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines và sự phản ứng quốc tế nhanh chóng xảy ra.
Tomas Cloma và Philippines tiếp tục tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo:
Tháng 10 năm 1956 Cloma tới Thành phố New York để trình bày sự việc trước Liên hiệp quốc và Philippines đã cho đóng quân trên ba đảo từ năm 1968 để bảo vệ các công dân Kalayaan.
Đầu năm 1971 Philippines gửi một lưu ý ngoại giao nhân danh Cloma tới Đài Bắc yêu cầu Cộng hoà Trung Hoa rút quân khỏi đảo Ba Bình
Ngày 10 tháng 7 cùng năm Ferdinand Marcos thông báo sự sáp nhập nhóm 53 hòn đảo mà họ gọi là Kalayaan, mặc dù cả Cloma và Marcoss không chỉ rõ 53 đảo nào tạo thành Kalayaan, người Philippines bắt đầu tuyên bố chủ quyền ở càng nhiều nơi càng tốt.
Tháng 4 năm 1972 Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một poblacion (khu vực nhỏ), với Tomas Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực
Năm 1992 có 12 cử tri được đăng ký ở Kalayaan. Philippines cũng liên tục cố gắng đổ quân xuống đảo Ba Bình
Năm 1977 để chiếm đảo nhưng bị quân đội Cộng hoà Trung Quốc đóng trên đảo đẩy lùi.
Năm 2005, một trạm điện thoại di động được lắp đặt ở đảo Pagasa bởi Smart Communications của Philippine
Người Philippines đưa ra res nullius(một thuật ngữ tiếng Latinh có nguồn gốc từ luật La Mã, được gọi là vật vô chủ).Và địa lý làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Cái cho rằng Kalayaan của Philippines là res nullius bởi vì không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930, khi người Pháp và sau đó là người Nhật chiếm đảo.
Khi Nhật Bản tuyên bố rút lui chủ quyền đối với các đảo trong Hiệp ước Hoà bình San Francisco, đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, người Philippines cho rằng quần đảo trở thành res nullius và có thể được sáp nhập. Nhà kinh doanh người Philippines Tomas Cloma đã làm đúng điều đó vào năm 1956 và trong khi Philippines không bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Cloma, trong lúc chuyển giao chủ quyền đảo từ Cloma sang Philippines, người Philippines sử dụng đúng quyền tuyên bố chủ quyền như Cloma đã từng làm.
Philippines yêu cầu Kalayaan về các căn cứ địa lý có thể tóm tắt bằng cách khẳng định rằng Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở Biển Đông bởi vì:
"Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học coi một dãy các đảo có tên thuộc về đảo lớn nhất trong nhóm hay có tên dựa theo sự tập hợp chung. Ghi chú rằng Trường Sa (đảo) chỉ có diện tích 13 hectare so với diện tích 22 hectare của đảo Pagasa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách quần đảo Pagasa 210 m. Điều này nhấn mạnh lý lẽ rằng chúng không phải là phần của cùng một dãy đảo. Quần đảo Hoàng Sa còn ở xa hơn (34.5 km tây bắc đảo Pagasa) rõ ràng là một nhóm đảo khác."
Một lý lẽ thứ hai được Philippines sử dụng liên quan tới tuyên bố chủ quyền địa lý của họ đối với Trường Sa là những đảo thuộc phần tuyên bố chủ quyền của Philippines nằm bên trong đường căn bản quần đảo của họ, họ là nước duy nhất có thể tuyên bố như vậy.
Hội nghị Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982 nói rằng các nước bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm biển tài phán từ biên giới đất liền của mình. Có thể điều đó có nghĩa rằng trong khi Philippines là một nước đã ký kết vào UNCLOS, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam vẫn chưa tham gia. Philippines cũng viện lý lẽ rằng, theo các điều khoản của Luật biển, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không thể mở rộng đường căn bản của mình tới Trường Sa bởi vì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không phải là nước có biển đảo.
Hiện Philipin chiếm 8 đảo (Bến Dừa, Thị Tứ, Loai Ta, Vĩnh Viễn, Bình Nguyên, Song Tử Đông, Paratan và Cong Do) với diện tích đất 83,89 ha.
Philippin đã triển khai nâng cấp sân bay trên đảo Thị Tứ (đảo lớn thứ 2 của quần đảo Trường Sa); thành lập cơ quan hành chính; trạm phủ sóng điện thoại di động, nhà máy lọc nước, nhà máy điện…đảm bảo cho 300 người dân sinh sống.
I.3.3 Malayxia
Năm 1979, Malayxia xuất bản bản đồ công bố thềm lục địa của Malayxia bao trùm lên phần phía nam của quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo ở Trường Sa thuộc vương quốc cổ của Malayxia. Malayxia chiếm 5 đảo và bãi đá ngầm với diện tích đất 6,2 ha (Hoa Lau, Kỷ Vân, Kiệu Ngựa, Thám Hiểm và Én Ca).
Malayxia tiến hành đầu tư phát triển ngành dầu khí và du lịch, xây dựng đảo Én Ca thành địa điểm du lịch hấp dẫn với: Sân bay, bể bơi, nhà nghỉ cao cấp.
I.3.4 Đài Loan
Chiếm đảo Ba Bình – đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa - với diện tích 46 ha và bãi cạn Bình Than. Đài Loan tiếp tục duy trì sự có mặt của lực lượng hải quân ở Trường Sa. Gần đây triển khai xây dựng sân bay dân sự phục vụ cho mục đích quân sự bất chấp sự phản ứng của các nước trong khu vực.
I.3.5 Brunây
Năm 1984, Brunây lập ra một vùng đặc quyền đánh cá bao gồm cả đảo ngầm Louisa ở phía nam quần đảo Trường Sa
Năm 1988 và 1993, Brunây công bố bản đồ yêu sách thềm lục địa ở Biển Đông trùm lên một phần nhỏ phía nam quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Brunây không chiếm đóng đảo nào
I.3.6 Inđônêxia
Không chiếm đảo nào nhưng thường xuyên duy trì hoạt động quân sự, tuần tiểu, kiểm tra bắt các tàu đánh cá trong khu vực quần đảo (ngày 19/7/2007, Inđônêxia vây bắt và bắn vào 2 tàu đánh cá Việt Nam làm chết 2 người, 1 người bị thương).
II. BIỂN ĐÔNG
II.1 Khái quát
Trải rộng từ :
Vĩ độ : 30 lên đến 260 VB.
Kinh độ : 1000 đến 1210 KĐ.
Là biển lớn thứ 6 trên thế giới. Diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3.500.000 km², được bao bọc bởi 9 quốc gia khác là : Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Brunây, Inđônêsia, Malaysia,Thái Lan, Singapo, Campuchia.
Cao Văn Trọng, Bí Thư HU Ba Tri - 0913965309
Biển Đông (South China)
Việt Nam
Trung Quốc
Malaysia
Singapore
Campuchia
Thailand
Brunei
Philippine
Indonesia
Giáp với 28/64 tỉnh, thành phố của Việt Nam, có 3000 hòn đảo gần bờ và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Có nhiều đảo lớn rộng trên 100 km2 như : Cát Bà, Phú Quốc, Cái Bầu.
Biển Đông là một biển nửa kín.
Là đường hàng hải nhộn nhịp thứ 2 thế giới ( sau Địa Trung Hải ).
Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng.
Biển Đông là một khu vực hết sức chiến lược và quan trọng đối với các nước.
Năm vùng biển theo Công ước của LHQ về Luật biển 1982 mà Việt Nam tham gia từ ngày 23/6/1994
1hải lý =40.000/(360x60) = 1,852 km
Biển Đông
Hoàng Sa gồm 30 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn. Nằm ở khu vực biển. Vị trí: Từ 15045’ đến 17005’ vĩ độ Bắc. Từ 1110 đến 1130 kinh độ Đông. Diện tích phần nổi là: 10 km2. Đảo lớn nhất là : Phú Lâm, rộng: 1,5 km2
Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cách Hoàng Sa 120 hải lý
Đảo Hải Nam (Trung Quốc) cách Hoàng Sa 130 hải lý, cách Trường Sa 595 hải lý.
Trường Sa gồm hơn 100 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn. Nằm ở khu vực biển. Vị trí: Từ 6050’ đến 1200’ vĩ độ Bắc. Từ 111030’ đến 117020’ kinh độ Đông. Diện tích phần nổi là: 10 km2. Đảo lớn nhất là : Ba Bình, rộng: 0,5 km2
Trường Sa cách Cam Ranh (Khánh Hoà) 248 hải lý; cách Đảo Phú Quí (Bình Thuận) 203 hải lý
II.2 Vấn đề tranh chấp trên biển Đông
Bản đồ tranh chấp chủ quyền giữ các nước
Năm 1947, Chính quyền Trung hoa dân quốc xuất bản bản đồ “Nam hải chư đảo” và sau đó (1950), Trung cộng tái bản trên bản đồ “Trung hoa nhân dân cộng hoà phân tỉnh tinh đồ” thể hiện đường yêu sách 9 đoạn đứt khúc (gọi nôn na là đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông.
Trung Quốc xác định trong bản đồ “Trung Hoa Nhân dân Cộng hoà quốc phân tỉnh tinh đồ” thể hiện 9 đoạn đứt khúc
Bản đồ hình lưỡi bò của Trung Quốc
III.LUẬN CỨ CHỨNG MINH
Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình cho đến khi quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị các lực lượng vũ trang Trung Quốc đánh chiếm.
Dấu ấn sớm nhất ghi lại được của con người với quần đảo Trường Sa là từ khoảng năm thứ 3 trước Công nguyên.
Điều này dựa trên một số phát hiện rằng những người đánh cá, đa số là cư dân từ Vương quốc Chăm Pa cổ của Việt Nam hoặc cư dân cổ xuất phát từ đảo Hải Nam và các vùng đất nay là các quận ở tỉnh Quảng Đông đã đến quần đảo Trường Sa, và các đảo khác ở vùng Biển Đông để đánh cá hàng năm.
Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thỉnh thoảng có một số thuỷ thủ từ một số nước lớn châu Âu (gồm hoặc Richard Spratly hoặc William Spratly) đến quần đảo Trường Sa, từ đó quần đảo có cái tên tiếng Anh là Spratly và tên này được thừa nhận chung, nhưng các nước châu Âu hồi đó còn ít chú ý đến quần đảo này.
Đa số các tên tiếng Anh của các đảo, đảo nhỏ và đảo chìm được những ngư dân Việt Nam hay Trung Quốc đặt. Các tàu Đức đến nghiên cứu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1883 nhưng cuối cùng đã rút lui sau khi có những phản ứng từ phía nhà Nguyễn của Việt Nam.
III.1 Khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII
Dân đánh cá Việt Nam đã sống trên những đảo này và khai thác đảo từ lâu đời. Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được là quyển “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII. Danh từ “Tuyển tập” cho ta thấy tài liệu này được thu nhập từ nhiều tài liệu trước nữa.
Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư
Theo Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư do Đỗ Bá Công Đạo soạn vào thế kỷ XVII, vào thế kỷ XVII bản đồ Việt Nam đã đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng cái tên chung là Bãi Cát Vàng và quy thuộc hai quần đảo này vào đại hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa. Lúc đó, Bãi Cát Vàng còn được gọi bằng nhiều tên khác như : Hoàng Sa, Cồn Vàng, Trường Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa v.v… và nay là Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong quyển này, Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và xác nhận rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ XVII. Đoạn trích do sử gia kiêm nhà Hán học Võ Long Tê dịch như sau:
“Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng”, dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh.
Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển thường bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị đắm trôi dạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo.
Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày.”
Theo sử gia Võ Long Tê, mặc dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (vào năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển Hồng Đức Bản Đồ - Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Danh từ Bãi Cát Vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác, từ lâu trước khi chính quyền Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo
Dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này.
III.2 Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
Phủ biên tạp lục
Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam. Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều tài liệu của chính quyền các Chúa Nguyễn để lại.Đoạn sau đây nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
“… Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”
Việt Nam đã củng cố sự chiếm hữu và xác lập chủ quyền bằng việc tổ chức các đội Hoàng Sa để tiến hành khai thác với tư cách Nhà nước. Mỗi đội Hoàng Sa gồm 70 người, nhiệm vụ là mỗi năm ra Hoàng Sa sáu tháng đánh bắt hải sản như hải sâm, đồi mồi, ốc quý,… thu lượm các hàng hoá của các tàu bị đắm ở vùng các quần đảo này như vàng bạc, tiền tệ, súng đạn, thiếc, đồ sứ, đồ thuỷ tinh,…
Cuốn sách của Đỗ Bá Công Đạo cũng như hàng chục sách khác như Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên (1844-1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1882), những bộ sử chính thức của Quốc Sử quán của Triều đình Huế, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833)… đều đã nói đến Hoàng Sa và việc khai thác bằng các đội Hoàng Sa. Tất cả có thể lệ tuyển chọn người, chế độ thu nộp, chế độ khen thưởng, chế độ đãi ngộ đối với các đội Hoàng Sa đều được Nhà nước quy định rõ ràng.
Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).
Vua Gia Long, người sáng lập đời nhà Nguyễn và các vua kế tiếp như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã đặc biệt quan tâm củng cố chủ quyền của nước mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
III.3 Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
Chủ quyền được tiếp tục hành xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn (là thời đại kế vị chính quyền các Chúa Nguyễn).
Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, Vua Gia Long, đã củng cố thêm quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách chính thức chiếm hữu hai quần đảo. Năm 1816, Vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam.
Sau đây là một số sự kiện nổi bật nhất :
- Năm 1815 vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa khảo sát và đo đạc đường biển. Việc khảo sát và đo đạc được tiếp tục vào các năm sau đó.
Đoạn sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên chứng minh điều này:
“Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Vua Gia Long (1816)
Ra lệnh cho lực lượng hải quân và đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình.”
Sự chiếm hữu hai quần đảo theo lệnh của Vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây.
Bài của M.A. Dubois de Jancigny viết như sau:
“… Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một giải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ”
Một bài khác của Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi nhận điều trên:
“Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay là hoàng đế bao gồm bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần của Vương quốc Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi không có người ở. Chỉ đến năm 1816 hoàng đế hiện nay mới chiếm lĩnh những đảo ấy.”
- Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 104, viết như sau:
“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)… Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”
Đại Nam thực lục chính biên
- Năm sau, Vua Minh Mệnh ra lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Quyển Đại Nam thực lục chính biên (1834), quyển thứ 122 ghi nhận điều này:
“Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh:
… Vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ…”
- Đến năm 1835 thì lệnh xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong quyển Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154:
“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)… Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: “Vạn Lý Ba Bình”. Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch.
Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về”.
- Sau khi chỉ thị chuẩn bị thuyền và vật tư năm 1833, vua Minh Mạng, liên tiếp trong 3 năm 1834, 1835, 1836 cử các tướng Trưng Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa đo đạc từng đảo, khảo sát tình hình biển chung quanh, vẽ bản đồ và xây miếu, dựng bia chủ quyền. Vua Thiệu Trị đã trực tiếp phê duyệt kế hoạch hoạt động năm của đội Hoàng Sa do Bộ Công đệ trình. Vua tự Đức đã phong cho những chiến sĩ đội Hoàng Sa hy sinh danh hiệu "Hùng binh Trường Sa".
Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình".
Tờ tâu của Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị năm 1847
Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) Bộ Công dâng sớ tâu lên vua: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực biển nước ta, hết sức hiểm yếu. Sách Đại Nam nhất thống chí viết : "Phía Đông có bãi cát nằm ngang (đảo Hoàng Sa) liền với biển xanh làm hào bao che". Trong sách "Hải Lục" của Trung Quốc viết năm 1842 cũng nhận xét: "Vạn lý Trường Sa gồm những bãi cát nổi trên biển dài mấy ngàn dặm, làm phên dậu bên ngoài của nước An Nam".
Đại Nam nhất thống chí
Đây là bản đồ nước Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838 (trong Đại Nam Nhất thống toàn đồ).
Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Bản đồ vẽ quần đảo Trường Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong thực tế chỉ vì kỹ thuật thời đó còn kém, không biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa và của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này. Hơn nữa, vị trí của hai quần đảo nằm trên cùng một kinh tuyến 111°;quần đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông nam, nên trên thực tế cũng không xa nhau lắm, và vì thời đó người ta không có được ý niệm chính xác về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản đồ, thì có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau hơn thực tế. Dù sao,các giả thuyết cũng đều chứng minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.
Những bản đồ của phương Tây thời xưa cũng không phân biệt được quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nên đã vẽ cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ, bản đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les établissement et point de penetration européen en Extrême Orient au 18è siècle
Trong bản đồ Biển Đông (Sinensis Oceanus) của anh em Van Langren người Hà Lan in năm 1595 cũng như trong bản đồ "Indiae Orientalis" của nhà hàng hải Meccato in năm 1633, đã vẽ hải quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành một dải liền nhau, hình lá cờ đuôi nheo nằm trải dài ngoài khơi dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, trong đó có rất nhiều chấm nhỏ biểu thị các hòn đảo, bãi cát với hàng chữ Isle de Pracel (quần đảo Pracel). Trong bản đồ này trên bờ biển ở khu vực Đà Nẵng hiện nay có ghi dòng chữ Costa de Pracel (bờ biển Pracel).
Trong một công trình của mình, nhà nghiên cứu M.G. Dumoutier đã đề cập đến một tập bản đồ Việt Nam vẽ vào cuối thế kỷ 15 gồm 24 mảnh, trong đó có mảnh thứ 19 đã thể hiện rõ ràng ở ngoài khơi tỉnh Quảng Nghĩa có một bãi cát trải dài 500 - 600 hải lý mang tên Bãi Cát Vàng.
Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam
Hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam. Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn, trải qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ chức. Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời phản đối của Trung Hoa thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.
Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.
Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam theo Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 trong đó công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam, Pháp đã nhân danh Việt Nam cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; chủ yếu tiến hành các cuộc tuần tiễu trong vùng, dùng tàu của lực lượng hải quan ngăn chặn việc buôn lậu. Bên cạnh những việc đó, chính quyền Pháp đã cho tiến hành hàng loạt các hoạt động nghiên cứu, điều tra, khảo sát về hải dương, địa chất và sinh vật ở khu vực hai quần đảo
Nhằm củng cố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo, trong những năm đầu của thập kỷ 30 của thế kỷ XX, các đơn vị hải quân của chính quyền Pháp đã lần lượt đến đóng quân trên các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa. Hành động này đã được công bố và ghi nhận trong công báo nước Cộng hoà Pháp ngày 26 tháng 7 năm 1933.
Cùng trong năm 1933, quần đảo Trường Sa đã được quy thuộc vào tỉnh Bà Rịa theo một Nghị định của Thống đốc Nam kỳ J.Krautheimer.
Ngày 15 tháng 6 năm1938, Toàn quyền Đông Dương Brévie đã ban bố Sắc lệnh xác lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa,
Cũng trong năm 1938, Pháp đã cho dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở quần đảo Hoàng Sa; xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở quần đảo Trường Sa.
Bia chủ quyền do Pháp dựng năm 1938
Năm 1939, Pháp đã phản đối việc Nhật Bản tuyên bố một số đảo trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Nhật Bản.
Năm 1947, Pháp đã yêu cầu quân đội Trung Hoa dân quốc rút quân khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân ra thay thế quân đội Trung Quốc, đồng thời cho xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.
Năm 1950, Pháp chính thức giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính quyền Việt Nam.
Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng của chính quyền Bảo Đại lúc đó là Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố
 
Lịch âm dương
Giá vàng
| Loại ngoại tệ | Mua TM | Mua CK | Bán | |||
| Đô-la Mỹ | 20,810 | 20,825 | 20,870 | |||
| Bảng Anh | 32,917 | 33,016 | 33,279 | |||
| Đô-la Hồng Kông | 2,030 | 2,676 | 2,705 | |||
| Franc Thụy Sĩ | 21,862 | 21,928 | 22,102 | |||
| Yên Nhật | 260.28 | 261.06 | 263.14 | |||
| Ðô-la Úc | 21,544 | 21,609 | 21,780 | |||
| Ðô-la Canada | 20,714 | 20,766 | 20,941 | |||
| Ðô-la Singapore | 16,941 | 16,992 | 17,127 | |||
| Đồng Euro | 26,346 | 26,425 | 26,635 | |||
| Ðô-la New Zealand | 16,854 | 16,938 | 17,090 | |||
| Bat Thái Lan | 530 | 619 | 784 | |||
| Bảng tỷ giá số 7, hiệu lực: 12/11/2012 09:48:11 |






Các ý kiến mới nhất